Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin nóng hôm nay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin nóng hôm nay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

Ngân hàng quốc doanh - lại vấn đề tăng vốn

Ông Nghiêm Xuân Thành khuyến cáo được cho phép các NHTM Nhà nước giữ lại cổ tức hàng năm để tăng vốn. Không chỉ có vậy, tiếp diễn được chấp nhận các ngân hàng bán vốn, thoái vốn cũng như phát hành cổ phiếu riêng lẻ để thực hiện tăng vốn.

Tình thế cấp bách của những ngân hàng quốc doanh

Câu chuyện tăng vốn cho ngân hàng quốc doanh lại một lần nữa nóng lên khi ông Nghiêm Xuân Thành - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank lên tiếng cảnh báo về sự cấp bách của vấn đề đó tại một hội nghị quan trọng của ngành Ngân hàng vừa diễn ra.

Vì sao việc tăng vốn lại trở nên cấp bách hơn bao giờ hết? Trao đổi với phóng viên, chỉ đạo cấp cao của 3 NHTM có vốn nhà nước đều có chung “đáp án”: Hiện tỷ lệ an toàn vốn theo tính toán hiện nay của những ngân hàng này đã chạm ngưỡng tỷ lệ an toàn vốn. Nếu áp dụng tỷ lệ này theo tiêu chuẩn Basel II có thể vi phạm an toàn.
Kết quả hình ảnh cho tang von ngan hang

Không tăng được vốn sẽ ảnh hưởng tới khả năng cấp tín dụng thanh toán của những ngân hàng
Điều đáng ngạc nhiên nữa là hiện 4 NHTM có vốn nhà nước lớn gồm có Agribank, Vietcombank, BIDV và VietinBank chiếm tới hơn 50% tổng dư nợ tín dụng của toàn Ngành. Bởi vậy, nếu các NH này không tăng được vốn, việc cấp tín dụng thanh toán cho cả nền kinh tế thị trường sẽ bị ảnh hưởng.

Ngược lại, nếu vẫn vượt rào cấp tín dụng thanh toán, các NH này sẽ đặt cả hệ thống vào rủi ro. Chính vì lẽ đó, mặc dù cả Vietcombank, VietinBank và BIDV rất có thể nằm trong trường hợp đặc biệt được nới trần tăng trưởng tín dụng thanh toán theo quy định tại Chỉ thị 04 do tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém, nhưng chỉ huy những ngân hàng trên tỏ ra cẩn trọng khi cho biết, trong quá trình sắp tới, khi chưa được tăng vốn thì những ngân hàng sẽ ưu tiên kiểm soát chất lượng tín dụng thanh toán thay vì tốc độ kết quả khởi sắc.

Trước trong thực tế hơn ba năm trở lại đây, cả 3 ngân hàng trên gần như không gia tăng đồng vốn nào, trong khi lại đang phải đối mặt với nhiều áp lực về đáp ứng vốn cho nền kinh tế thị trường, nhất là phải nâng hệ số CAR theo tiêu chuẩn Basel II. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s cũng đưa ra cảnh báo, nếu không nhanh chóng tăng vốn, khả năng kết quả ấn tượng của các ngân hàng lớn tại Việt Nam sẽ chững lại và sẽ ảnh hưởng đến hoạt động chung của hệ thống.

Theo tính toán của một thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo quy định, khối hệ thống ngân hàng Việt Nam cần tăng vốn gấp 1,8 - 2 lần so với hiện tại. Như vậy, ước tính, cả khối hệ thống ngân hàng Việt Nam cần tới 7 tỷ $ để tăng vốn trong năm 2018 và 2019. Với quy mô hoạt động như lúc bấy giờ, một nửa áp lực đặt lên vai khối NHTM quốc doanh. Đó là thử thách không hề nhỏ đối với những ngân hàng này khi các quy định vẫn đang bó chân họ trong việc tăng vốn.

Khi “soi” kế hoạch tăng vốn của 3 ngân hàng này thì mỗi ngân hàng một cảnh. Khó khăn nhất có thể là trường hợp VietinBank khi ngân hàng đã cạn room để hút vốn ngoại. Sau khi khuyến nghị nới room cho cổ đông ngoại không được đồng ý, lãnh đạo ngân hàng này cho biết, đã phải chuẩn bị vài chiến thuật bổ sung vốn cấp bách để trình NHNN, Chính phủ và đang chờ phê duyệt.

Trong khi đó, mặc dù hiện room ngoại của BIDV còn nguyên, tuy nhiên, BIDV đang đợi Chính phủ phê duyệt người đóng cổ phần ngoại mà ngân hàng này đã chọn lựa. Tuy chưa chính thức chào làng nhưng giới góp vốn đầu tư đồn đoán đối tác ngoại mà BIDV chọn là Hana KEB (Hàn Quốc) khi vào cuối năm ngoái hai ngân hàng này đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược.

Riêng Vietcombank xem ra là có nhiều lợi thế hơn so với VietinBank và BIDV khi được chấp thuận phát hành cổ phiếu riêng lẻ cho người đóng cổ phần ngoại để tăng vốn, nhưng vẫn gặp rào cản từ hoạt động này.

Vướng mắc mà ngân hàng này gặp phải được ông Nghiêm Xuân Thành cho hoặc, thời gian qua, Vietcombank đã được phép phát hành cổ phiếu riêng lẻ cho cổ đông nước ngoài. Nhưng qua tiếp xúc với những người đóng cổ phần, có điểm khó đối với hoạt động này đó là giá vừa phải đảm bảo không thấp hơn giá định giá, vừa không thấp hơn giá thị trường. Chưa kể mua lô lớn, các người đóng cổ phần phải giữ trong vòng một năm mới được bán cho NĐT khác. Đây thực sự là quy định khó khăn cho ngân hàng.

Việc khống chế thời gian chuyển nhượng cũng là một trong hai nguyên nhân khiến xác suất để Vietcombank có thể phát hành được toàn bộ 10% vốn này trong năm 2018 là quá thấp. Lân cận việc người mua cổ phiếu sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong một năm, hiện tại ở mức giá trung bình khoảng 60.000 đồng/CP, cổ phiếu của Vietcombank đang giao dịch với mức P/B 2018 khoảng 3.6, không thực sự lôi cuốn so với P/B của những ngân hàng có chất lượng tài sản tốt khác.

Tìm cách gỡ bí

Trước mắt để các ngân hàng có đủ vốn đáp ứng nhu cầu được những quy chuẩn của Basel II cũng như cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế thị trường theo chỉ tiêu kết quả ấn tượng tín dụng trong quá trình tới, ông Nghiêm Xuân Thành đề xuất được chấp nhận những NHTM Nhà nước giữ lại cổ tức hàng năm để tăng vốn. Ngoài ra, tiếp tục được chấp nhận những ngân hàng bán vốn, thoái vốn cũng như phát hành cổ phiếu riêng lẻ để thực hiện tăng vốn.

“Vietcombank mong thời gian tới Chính phủ chỉ đạo các bộ, ban ngành liên quan rà soát lại cơ chế đảm bảo tuân thủ pháp luật, đặc biệt quyền lợi NĐT, quyền lợi nhà nước cũng như đảm bảo thuận lợi cho việc tăng vốn của ngân hàng”, ông Thành bày tỏ.

Đồng tình với những giải pháp trên, nhưng TS. Cấn Văn Lực cho rằng, đó chỉ là giải pháp tạm thời trong lúc cấp bách. Về lâu dài, kênh tăng vốn hiệu quả nhất của các NHTM quốc doanh chính là gọi vốn ngoại. Tuy nhiên lúc bấy giờ, tốc độ phê duyệt các giải pháp về đối tác doanh nghiệp ngoại còn khá chậm. Do vậy, cần phải đẩy nhanh tốc độ quá trình này.

“Tất cả người đóng cổ phần nước ngoài nói chung, NĐT chiến lược nói riêng góp vốn đầu tư có thời điểm, chứ họ không thể chờ đợi mãi. Nên khâu xem xét phê duyệt các thương vụ bán cổ phần cho người đóng cổ phần chiến lược nước ngoài cần rất khẩn trương để những ngân hàng cũng như người đóng cổ phần chớp được cơ hội. Qua đây cũng thể hiện đúng tinh thần Chính phủ về cải tổ môi trường góp vốn đầu tư kinh doanh”, TS. Lực lưu ý tầm quan trọng của việc đẩy nhanh tốc độ phê duyệt các thương vụ bán cổ phần và cho biết thêm việc kéo dài thời gian phê duyệt ảnh hưởng đến giá bán thắng lợi cổ phiếu.

Đơn cử, hai bên đàm phán thời điểm tháng 3 giá là 30.000 đồng/CP, nhưng thời điểm được phê duyệt rơi vào tháng 9 cùng năm đó giá chắc chắn sẽ thay đổi. Nên nếu lấy tham chiếu cách 1-2 tháng cũng là lỗi thời chưa nói đến thời điểm đàm phán. Do vậy cần phải thúc đẩy tiến độ phê duyệt giải pháp nhanh hơn, cùng với đó, nghiên cứu phương pháp, cơ sở định giá cổ phiếu từ phía nhà nước không chỉ dựa trên thị giá mà phải trên cơ sở quan hệ cung cầu và cập nhật diễn biến thị trường để đảm bảo giá cổ phiếu đó sát với giá thị trường, năng lực chuyên môn giao dịch thành công cao hơn.

Một hướng đi mở cho các NHTM quốc doanh đó là theo Chiến lược tăng trưởng ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 vừa được Thủ tướng phê duyệt, từ nay đến năm 2020, Nhà nước sẽ nắm vai trò chi phối, giữ tối thiểu 65% tổng cộng cổ phần có quyền biểu quyết đối với 3 ngân hàng có vốn nhà nước. Tới năm 2025, tỷ lệ này chỉ còn cần đảm bảo ở mức 51%.

Song song với đó, một số chuyên gia cũng kiến nghị xem xét nới room ngoại để những ngân hàng này có thêm dư địa tăng vốn. Còn TS. Cấn Văn Lực đề xuất song song với triển khai tốt lộ trình giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, Chính phủ nên nghiên cứu phương án phát hành cổ phiếu vàng. Với việc phát hành cổ phiếu này, Chính phủ không cần nắm tỷ lệ chi phối nhưng vẫn có quyền quyết định vấn đề quan trọng đối với những ngân hàng này.

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

Vay tiêu dùng - béo bở nhưng có dễ ăn?

Nhiều chủ đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc đang nhòm ngó lĩnh vực cho vay tiêu dùng.

Thị trường TC tiêu dùng vẫn phát triển nóng, hấp dẫn ngày càng nhiều doanh nghiệp nhảy vào khai thác khiến cuộc đua trong lĩnh vực này rất khốc liệt. Trong một báo cáo giải trình mới đây của Công ty Chứng khoán Bản Việt (VCSC), quy mô thị trường tài chính tiêu dùng Việt Nam sẽ đạt mốc 1 triệu tỉ đồng vào năm 2019.

Xuất hiện nhiều gương mặt mới

VietCredit là cái tên mới nhất tham gia vào thị trường TCTD. Báo cáo giải trình về việc gia nhập vào thị trường vốn đã khá đông đối thủ mạnh cạnh tranh này, ông Hồ Minh Tâm, tổng giám đốc VietCredit, cho biết: “Vẫn còn nhiều khách hàng giờ đây chưa tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng chính thống vì không có tài sản thế chấp, không chứng minh được thu nhập… nên dư địa cho các công ty TCTD vẫn còn rất lớn. Vấn đề là chúng tôi tham gia thị trường với vị thế như thế nào, với các điểm nổi bật ra sao để cạnh tranh”.

Ngân hàng Nhà Nước trước đó cũng đã đồng ý cho Công ty Tài chính điện lực (EVN Finance) tham gia vào lĩnh vực cho vay tiêu dùng, thay vì chỉ cấp tín dụng thanh toán cho doanh nghiệp, cá nhân trong ngành điện như trước đây. Không chỉ vậy, thông qua những thương vụ mua bán và sáp nhập, thị trường TCTD có thêm thành viên mới như Ngân hàng Đông Nam Á Seabank và hai đại gia đến từ Hàn Quốc là Lotte Card và Shinhan Card.

cụ thể chi tiết, SeABank rót 710 tỉ đồng mua lại Công ty Tài chính bưu điện; Lotte Card (thành viên của Tập đoàn Lotte) chi 1.700 tỉ đồng mua lại toàn bộ bộ phận TC tiêu dùng TechcomFinance của Techcombank; Shinhan Card rót hơn 151 triệu USD mua lại Công ty Tài chính Prudential Việt Nam (PVFC).

đáng chú ý, nhiều ngân hàng đã đặt mục tiêu đầy tham vọng chiếm lĩnh thị phần vay tiêu dùng. Chẳng hạn, một liên doanh giữa Ngân hàng Quân đội (MB) và Shinsei Bank (Nhật) đã thành lập Công ty Tài chính MBShinsei với mục tiêu lọt vào tốp 5 những công ty TCTD.

Chưa kể nhiều chủ đầu tư của dự án khác đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đang nhòm ngó lĩnh vực này. Điều này sẽ khiến sự cạnh tranh trên thị trường TCTD ngày càng gay gắt hơn.

quyet liet tranh phan mieng banh vay tieu dung beo bo
Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với hoạt động cho vay tiêu dùng. Ảnh: TL

“Con gà đẻ trứng vàng”

Theo tính toán của Công ty Chứng khoán Bản Việt, tỉ lệ thu nhập lãi thuần ngành ngân hàng chỉ 2,9% nhưng của lĩnh vực cho vay tiêu dùng lên tới 20%, tức 100 đồng cho vay có thể đem về 20 đồng thu nhập.

Đơn cử riêng năm 2017, FECredit đạt 4.000 tỉ đồng lợi nhuận. Những công ty tài chính tiêu dùng khác như Home Credit, HD Saison, Prudential Finance… cũng đạt lợi nhuận lên đến hàng ngàn tỉ đồng.

Nhìn ở góc độ vĩ mô, TS Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế, phân tích: Tỉ trọng tiêu dùng trong tổng GDP của Việt Nam liên tục tăng cao, tầng lớp trung lưu đang kết quả tích cực, tốc độ kết quả khởi sắc kinh tế trên 6%/năm đang là bệ đỡ cực tốt cho thị trường tài chính TD.

Trong khi đó dư nợ tín dụng tiêu dùng Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 11,7% tổng dư nợ, trong khi tại nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á tỉ lệ này là 34,6%. “Điều này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy kết quả ấn tượng mức tiêu thụ và gián tiếp gia tăng nhu cầu tài chính TD tại thị trường Việt Nam” - ông Lực nhận định.

Phó TGĐ Công ty Tài chính HD Saison Đàm Thế Thái cũng cho rằng với dân số hơn 90 triệu người, trong đó 75% đang sống ở khu vực nông thôn, ước tính có khoảng 68 triệu người chưa được tiếp cận toàn diện những nhu cầu TCTD. Hơn nữa, trong khoảng 22 triệu người sống ở thành thị cũng là một thị trường chưa được khai thác hết, chính vì thế Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với hoạt động cho vay tiêu dùng.

Cạnh tranh khốc liệt

TS Cấn Văn Lực cho rằng để thắng lợi trên thị trường TC tiêu dùng, các công ty phải có vốn mạnh, sản phẩm phù hợp và linh hoạt dành cho từng đối tượng khách hàng. Đặc biệt mạng lưới phân phối rộng khắp, đội ngũ nhân sự dày dạn kinh nghiệm; có chính sách tín dụng, khối hệ thống quản trị phù hợp, đặc biệt là quản trị rủi ro và những hoạt động thực thi hiệu quả.

Ông Kalidas Ghose, tổng giám đốc Công ty Tài chính FE Credit, cho biết để cạnh tranh và lôi cuốn khách hàng, công ty xây dựng một khối hệ thống công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây… để đưa ra quyết định cho vay một khách hàng không quá 15 phút. Tất cả máy móc quyết định và con người hầu như ít can thiệp.

“FE Credit cũng thấy rằng không thể giữ mãi vị thế hàng đầu vì ngày càng nhiều đối thủ mạnh gia nhập thị trường. Chính vì thế, chúng tôi phải luôn có những chiến thuật phù hợp với thị trường để cạnh tranh” - ông Kalidas Ghose nói.

Là người đến sau nhưng VietCredit rất tự tin vào năng lực cạnh tranh. Ông Hồ Minh Tâm, tổng giám đốc VietCredit, nói: “Chúng tôi xác định CN Thông tin là chìa khóa xây dựng những công đoạn, kênh phân phối để giúp công ty hoạt động ngân sách thấp nhất, yếu tố để tăng trưởng cạnh tranh và bền vững. Công ty cũng không lao vào cho vay trả góp vì các công ty tài chính khác có thị phần nhất định mà chủ yếu cho vay qua thẻ tín dụng. Đây là xu thế của tương lai”.

Nhưng cuộc cạnh tranh này không chỉ vốn mạnh, công nghệ tốt mà còn tính đến chất lượng khách hàng. Mảng cho vay tiêu dùng rất béo bở, tuy nhiên càng nhiều đơn vị chức năng tham gia thì miếng bánh lợi nhuận sẽ càng bị chia nhỏ, cứ đua nhau tham gia chưa chắc tất cả đã chiến thắng. Đặc biệt, nợ xấu luôn là nỗi ám ảnh của những công ty tài chính.
“Chi phí thu hồi nợ cũng là bài toán đau đầu cho những doanh nghiệp, vì việc gọi điện thoại hoặc nhắn tin nhắc nợ, thậm chí đến tận nhà người vay để đòi tiền là khá lớn” - ông Đàm Thế Thái, Phó tổng giám đốc HD Saison, thừa nhận.

Mức lãi suất 55%-84%/năm

Theo Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng thuộc Bộ Công Thương, trong giai đoạn 10 năm (2007-2017), lĩnh vực cho vay tiêu dùng liên tục có tốc độ kết quả ấn tượng cao, trung bình 20%/năm, đạt quy mô 646.000 tỉ đồng, đáp ứng 20 triệu lượt khách hàng trên toàn nước.

Thông thường những ngân hàng có mức lãi suất cho vay thấp nhưng thủ tục giấy tờ và thời gian phê duyệt khoản vay thường phức tạp và lâu hơn công ty tài chính. Trong khi đó những công ty tài chính có thủ tục vay, bộ hồ sơ giấy tờ đơn giản, gọn nhẹ hơn nhưng đi kèm là mức lãi suất cao hơn so với mức của những ngân hàng.

Chẳng hạn, đối với mức lãi suất mua hàng trả góp, trong khi các ngân hàng TM có mức lãi suất trung bình dao động 10%-25%/năm thì mức lãi suất của công ty tài chính 55%- 84%/năm.

Pháp luật TP HCM
Phương Minh

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2018

Nhóm "Big4" ngân hàng nên tăng vốn như thế nào?

Mới đây Ngân hàng Nhà Nước lại tiếp tục kiến nghị Chính phủ xem xét trình Quốc hội để sửa đổi bổ sung theo hướng được chấp nhận các ngân hàng Thương Mại (NHTM) có vốn Nhà nước được đưa vào danh mục góp vốn đầu tư công trung hạn. Cùng đó, những bộ ngành liên quan được kiến nghị bố trí nguồn để NHTM rất có thể phát triển vốn sau khi được phê duyệt.


Mục đích tăng vốn điều lệ cho ngân hàng

Một trong những mục đích chủ yếu của việc tăng trưởng vốn của các NHTM có vốn của nhà nước được cho là để phục vụ tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (CAR) vốn đã tụt giảm xuống gần chạm ngưỡng hiện hành là 9%. Nếu theo tiêu chuẩn Basel II thì càng cần phải nâng vốn lên thậm chí gấp đôi hiện nay mới đạt tiêu chuẩn. Kết quả ấn tượng vốn cũng là để mở rộng phạm vi kết quả khả quan tín dụng thanh toán bởi hạn mức tín dụng của cả ngân hàng nói chung và của ngân hàng cho từng khách hàng nói riêng chịu ràng buộc trước hết vào mức độ vốn tự có của ngân hàng.
Tuy nhiên, những nguyên nhân trên mới chỉ là xuất phát từ góc độ của từng NHTM. Ở góc độ cai quản nhà nước, Ngân hàng Nhà Nước nên/cần buộc những NHTM có vốn nhà nước phải đẩy mạnh vốn tự có của họ, nhằm mục đích đảm bảo an toàn khối hệ thống.

cụ thể chi tiết, với tư cách là những ngân hàng có tầm quan trọng mang tính chiến lược, các NHTM có vốn nhà nước không chỉ là một công cụ chính sách thông qua đó Ngân hàng Nhà Nước điều tiết hoạt động của khối hệ thống ngân hàng Thương Mại, mà còn đóng vai trò là bệ đỡ giảm sốc cho khối hệ thống mỗi khi phải đối mặt với các cú sốc bên trong và bên ngoài. Chuyện Ngân hàng NN "huy động" một số NHTM có vốn nhà nước tham gia tái cơ cấu những ngân hàng yếu kém là một minh chứng rõ cho vai trò quan trọng này của những ngân hàng nói trên.

Hơn hết, do "quá lớn nên không thể để đổ vỡ", các NHTM có vốn nhà nước – các ngân hàng đứng đầu khối hệ thống về quy mô tài sản trong khối hệ thống – cần phải luôn ở trong trạng thái khỏe mạnh để ít ra cũng không trở thành gánh nặng hỗ trợ mà đôi khi là quá sức với NH Nhà Nước. Các bài học sống động từ những cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới được châm ngòi bởi sự đổ vỡ của một ngân hàng lớn nào đó cho thấy tầm quan trọng của việc buộc những ngân hàng lớn phải luôn duy trì trạng thái vốn lành mạnh để chống đỡ được với những bất ổn và rủi ro tín dụng mà không kéo theo sự đổ vỡ của cả hệ thống.

Trở ngại tăng vốn

phương pháp phát triển vốn đầu tiên cho NHTM có vốn nhà nước là thay đổi cơ cấu chiếm dụng cổ đông. Hiện tại, nhà nước là người đóng cổ phần chi phối của ba NHTM có vốn nhà nước đã cổ phần hóa là Vietcombank, Vietinbank và BIDV. Theo cách này, nhà nước hoàn toàn có thể giảm tỷ lệ chiếm hữu hay thoái vốn nắm giữ trong 2 ngân hàng là BIDV và Vietcombank (theo quy định hiện hành) cho các cổ đông hiện hữu hay NĐT mới thông qua các đợt phát hành cổ phiếu phát triển vốn cho NĐT (gồm nhà đầu tư nước ngoài) và/hoặc cho công chúng. Tuy nhiên, cách này đang vấp phải trở ngại là những quy định của NH Nhà Nước, gồm tiêu chuẩn chọn lựa cổ đông, giá bán, thời hạn nắm giữ tối thiểu và trần sở hữu nước ngoài v.v…

NHTM có vốn nhà nước với nhà nước là nhà đầu tư chi phối còn có một cách kết quả ấn tượng vốn dĩ nhiên là nhà nước bổ sung vốn từ ngân sách, song song với việc bỏ vốn tương ứng của những cổ đông còn lại. Nhưng cách này vấp phải trở ngại là Quốc hội không chấp thuận cho Chính phủ dùng chi phí nhà nước để kết quả ấn tượng vốn điều lệ cho những NHTM có vốn nhà nước, và không đưa nhu cầu bổ sung vốn cho các NHTM có vốn nhà nước vào danh mục đầu tư công trung hạn.

Một cách tăng trưởng vốn phổ biến khác là giữ lại lợi nhuận (không trả cổ tức) để bổ sung vốn. Nhưng cách này cũng không được chấp nhận khi Chính phủ kiên quyết yêu cầu những NHTM có vốn nhà nước phải trả cổ tức bằng tiền mặt (có thể với nguyên do căng thẳng chi phí nhà nước).

Cách nào hợp lý hơn?

Rõ ràng là việc tăng vốn cho các NHTM có vốn nhà nước đã không có nhiều lựa chọn mà lựa chọn nào cũng có những mâu thuẫn nội tại. Nên chiến thuật hoàn toàn có thể thực hiện ở đây chỉ là chọn ra một cách thức kết quả khả quan vốn nào đó tỏ ra có tổn hại nhỏ nhất so với những phương pháp còn lại.

Hiện tại, nếu thực hiện theo kiến nghị của NH Nhà Nước – dùng ngân sách nhà nước – thì chiến thuật này sẽ gây ra các tổn hại như:

(i) Làm căng thẳng thêm thâm hụt ngân sách và nợ công/nợ nước ngoài. Dù rất có thể lập luận rằng bổ sung vốn từ chi phí sẽ giúp các ngân hàng khỏe mạnh hơn, hấp dẫn hơn nên, do đó, dễ CP hóa/thoái vốn hơn trong tương lai (và được giá hơn) v.v… nhưng tương lai này là quá bất định để có tính thuyết phục so với cái giá phải trả nhìn thấy ngay trước mắt là tổn hại lớn cho ngân sách đang rất khó khăn và nợ công đã sắp chạm trần.

(ii) Đi ngược lại và làm chậm các bước CP hóa và thoái vốn nhà nước. Mặc dù việc Chính phủ trình Quốc hội xem xét được chấp nhận NHTM có vốn nhà nước được bổ sung vốn từ chi phí là để cho phù hợp với quy định liên quan trong Luật góp vốn đầu tư công, nhưng các hành động "tháo gỡ" như vậy là tiền đề không tốt cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) khác thoái thác cổ phần hóa và thoái vốn nói riêng và tính nghiêm minh của pháp luật nói chung.

 Trên hết, vẫn chưa thấy có giải trình thỏa đáng từ phía cơ quan quản lý tại sao lại phải dùng chi phí nhà nước để kết quả ấn tượng vốn cho các ngân hàng này mà không dùng các giải pháp khác (như bàn thêm ở phần dưới đây)?

Nếu bổ sung vốn thông qua thoái vốn nhà nước, kết quả tích cực tỷ lệ chiếm dụng nhà đầu tư phi nhà nước thì có mấy hậu quả có thể là bất lợi như sau:

(i) Nhà nước sẽ thất thu về cổ tức. Tuy nhiên, sự thất thu này chỉ đúng khi các thước đo lợi nhuận (chẳng hạn ROA và ROE) của NHTM có vốn nhà nước là cao hơn của NHTM tư nhân. Nhưng hiện tại thì điều này không hoàn toàn đúng; vẫn có nhiều NHTM tư nhân hoạt động hiệu quả hơn NHTM có vốn nhà nước. Nói theo một cách khác, với lượng vốn nắm giữ ít hơn ở các ngân hàng tư nhân hiệu quả hơn thì nhà nước vẫn rất có thể thu về một lượng cổ tức không đổi, mà không nhất thiết phải đổ vốn vào NHTM có vốn nhà nước.

(ii) Nhà nước sẽ mất quyền chi phối các quyết định hoạt động trong ngân hàng, khiến cho làm vô hiệu hóa công cụ thực thi chính sách quan trọng này đối với Ngân hàng NN. Tuy nhiên, do tỷ lệ thoái vốn, nếu có, sẽ là không lớn, ít nhất trong tiến trình tới đây, nên nhà nước vẫn giữ được mức ảnh hưởng có tính quyết định với những ngân hàng này. Nếu cần, nhà nước rất có thể thêm những điều kiện khi thoái vốn như duy trì quyền phủ quyết. Trên hết, trong cơ chế giờ đây, NH Nhà Nước có nhiều quyền lực, bằng phương pháp này hay cách khác, để buộc bất cứ một ngân hàng nào đó thực hiện chủ trương mà không cần phải duy trì tỷ lệ sở hữu nhà nước quá lớn trong số ngân hàng.

(iii) kết quả khả quan năng lực chuyên môn bị cạnh tranh, thôn tính và lũng đoạn của nhà đầu tư nước ngoài (gồm những ngân hàng nước ngoài) với hệ thống ngân hàng. Điều này có thể phần nào sẽ là hiện thực nếu cổ đông nước ngoài được nắm giữ tỷ lệ chiếm dụng cao, chi phối. Nhưng trong thực tiễn và triển vọng của những NHTM có vốn nhà nước cho thấy vấn đề này là khó xảy ra trong các năm tới, ngoại trừ với các ngân hàng yếu kém, đang được tái cơ cấu (và cổ đông nước ngoài có thể sở hữu 100%). Mà các ngân hàng này, do quy mô có hạn, không phải là công cụ chính sách của Ngân hàng Nhà Nước, và cũng không phải là mối đe dọa tới sự an toàn và ổn định của khối hệ thống.

Và cuối cùng, nếu bổ sung vốn bằng cách cho phép những NHTM có vốn nhà nước được giữ lại lợi nhuận, không chi trả cổ tức (bằng tiền mặt), việc này sẽ làm ảnh hưởng ngay đến thâm hụt chi phí. Tuy vậy, quy mô và ảnh hưởng của việc này sẽ là nhỏ hơn so với việc nhà nước phải trích ngân sách ra để trực tiếp bổ sung vốn cho ngân hàng. Và suy cho cùng, với cùng lập luận rằng bổ sung vốn ngân sách cho ngân hàng là để cho nó khỏe hơn, hiệu quả hơn nên sẽ dễ thoái vốn sau này với giá cao hơn, việc cho phép ngân hàng giữ lại lợi nhuận nhằm bổ sung vốn cũng là nhằm đạt được cùng một mục đích như vậy nhưng với phí tổn nhỏ hơn.

Tóm lại, việc được cho phép NHTM có vốn nhà nước được giữ lại lợi nhuận và (kết hợp với) thoái bớt vốn nhà nước đang nắm dữ cho NĐT trong và ngoài nước sẽ là giải pháp hữu hiệu hơn là việc dùng chi phí nhà nước để kết quả ấn tượng vốn cho những ngân hàng này.